Những người bán hàng rong ở Sài Gòn
Nghe bài này
Họ là những người tá túc và lấy thành phố làm một trú xứ trong những
ngày rày đây mai đó kiếm cơm. Họ là những người nghèo giữa thành phố hơn
6 triệu dân, xe ngựa tấp nập nhưng riêng họ vẫn mang dáng điệu của kẻ
bộ hành hom hem với linh hồn chứa đầy nỗi tủi khổ của kiếp người lầm
than.
Họ đến thành phố với giấc mơ đổi đời nhưng Sài Gòn đất chật người
đông đã dần đẩy họ về phía không nhà. Họ là những người bán hàng rong xa
xứ với chiếc mẹt bên hông, chiếc giỏ cần xé trên xe đạp cọc cạch hoặc
với chiếc xe ba gác đẩy ngược xuôi phố phường. Cuộc đời muôn màu và nỗi
khổ của họ cũng muôn vẻ.
Thu nhập thấp, sợ bão giá
Nếu nói về bán các loại hàng rong như trái cây, gương, lược, ví, hộp
quẹt, xăng thơm châm zipo, bấm móng tay, nhíp, ví thậm chí thuốc tăng
cường sinh lý thì phải nhắc đến những người Quảng Ngãi, phần lớn họ đến
từ huyện Mộ Đức của tỉnh này. Họ đi có hội có thuyền, tổ chức thành từng
nhóm đồng hương theo xóm, thôn, làng, xã ở quê. Họ thuê nhà trọ giá rẻ,
năm, sáu người ở chung vào một phòng và chia nhau phần gánh nặng tiền
thuê nhà. Họ sống cơ cực, khốn khổ và luôn nỗ lực, cố gắng để cùng nhau
vượt qua mọi cơn bĩ cực của cuộc đời.
Nếu nhắc đến người bán hủ tiếu gõ, có lẽ phải nhắc đến những đồng
hương Đức Phổ, Quảng Ngãi. Tiếng gõ lóc cóc quen thuộc, có khi đầm đìa
mưa phố, có lúc nắng cháy lưng trưa, tiếng gõ lang thang từ hẻm này sang
hẻm khác, từ ngày này sang tháng nọ, từ mùa xuân sang mùa đông, từ thế
kỷ trước sang thế kỉ sau… Những tiếng gõ như một ấn chứng bằng thanh âm
ghi dấu một kiếp người đã đến và đã sống giữa chốn thị thành xa hoa này
bằng giấc mơ hè phố, giấc mơ cần lao. Và tiếng gõ trở nên quen thuộc đến
mức khi nói về Sài Gòn, người ta không thể không nhắc đến âm thanh của
hủ tiếu gõ.
Họ đi có hội có thuyền, tổ chức thành từng nhóm đồng hương theo xóm,
thôn, làng, xã ở quê. Họ thuê nhà trọ giá rẻ, năm, sáu người ở chung vào
một phòng và chia nhau phần gánh nặng tiền thuê nhà
Và nói cho cùng, Sài Gòn sẽ chẳng còn là Sài Gòn nếu như chỉ cần nửa
giờ đồng hồ thiếu vắng những âm thanh quen thuộc của một thế giới rất
gần gũi với người thị thành nhưng lại rất xa điệu sống xa hoa này. Và có
lẽ, nỗi khổ của những người bán hàng rong cũng mang một chút gì đó rất
đặc trưng ở chốn này.
Cô Lê Thị Lài, người Mộ Đức, Quảng Ngãi, đã có thâm niên bán gương
lược và các thứ nữ trang trên đất Sài Thành gần hai mươi năm nay kể với
chúng tôi rằng những người bạn đồng hương của cô phần lớn có hoàn cảnh
rất khó khăn, không có đất đai để canh tác, hoặc đã bị tịch thu, gọi là
giải
tỏa đến bù với giá rẻ bèo, số tiền cầm trên tay không đủ mua gạo và
thức ăn nửa năm, khi hết tiền, không còn đất canh tác, phải xuôi vào
Nam để kiếm cơm rày đây mai đó bằng công việc bán hàng rong.
Cô cho biết thêm là trong thời gian gần đây, vật giá leo thang đến
chóng mặt, mọi thứ chi tiêu trở nên khó khăn hết sức, nhưng phải thắt
lưng buộc bụng mà trụ lại ở thành phố, cắn răng gánh tiền thuê nhà, gồng
lưng mà đi bán tới 9h, 10h đêm với hy vọng kiếm thêm đồng nào mừng đồng
đó, có chút dư gửi về quê cho con cái học hành. Trung bình, giá phòng
trọ hạng bình dân ở các quận ven Sài Gòn có thấp gì cũng phải 700 ngàn
đồng trên mỗi tháng, chưa kể điện, nước, và mọi chi phí sinh hoạt khác.
Mà mức thu nhập của cô và các bạn cô đều có chừng rồi, từ 20
Chị bán nước dừa trên đường phố. AFP
ngàn đồng
đến 60 ngàn đồng thu được mỗi ngày, vị chi mỗi tháng thu được một triệu
tám trăm ngàn đồng. Với khoản tiền này, có tiết kiệm kiểu gì cũng phải
mất hết gần hai phần ba cho mọi chi phí.
Đã nghèo còn hay gặp công an
Cô Nguyễn Thị Hằng, 55 tuổi, người Bồng Sơn, Quảng Ngãi, kể với chúng
tôi rằng khu nhà trọ của cô đang ở tại quận Gò Vấp đã bị xuống cấp rất
nặng, những ngày trời mưa lớn phải che áo mưa lên trần mùng để ngủ cho
khỏi bị nước rơi vào mặt. Nhưng cô và hơn hai mươi người đồng hương
Quảng Ngãi, Quảng Nam vẫn luôn cầu nguyện chủ nhà trọ đừng sửa chữa, cứ
để y như vậy cho thuê. Vì mọi người đều lo sợ sau khi sửa chữa, nhà trọ
trở nên khang trang và mức giá phòng trọ cũng cao hơn, lúc đó mọi người
phải vất vả vì khoản tiền thuê phòng.
Ở lần phạt thứ hai, Hoa mất hết vốn liếng, bỏ về quê. Bị người chồng say xỉn chì chiết, đánh đập, Hoa buồn quá, tự kết liễu cuộc đời bằng chai thuốc trừ sâu
Mùa mưa năm nào cũng là mùa buồn nhất của những người đi bán hàng
rong trong thành phố. Trước đây, vật giá chưa leo thang thì nếu như trời
mưa lớn quá, đường phố bị ngập, cô Hằng và những người bạn rủ nhau ở
nhà mua nếp về nấu xôi ăn cho đỡ buồn. Còn bây giờ, đụng thứ gì cũng tốn
tiền, không ai dám ngồi nhà, dù trời có mưa to cỡ nào, nước có ngập đến
đâu cũng phải đội mưa mà đi bán kiếm tiền trang trải qua ngày, dành dụm
gởi về quê. Với người bán hàng rong xa xứ, nỗi ám ảnh lớn nhất của họ
là công an và trời mưa.
Người bán hàng rong ở Sài Gòn. RFA
Nếu như trời mưa, người bán hàng rong bị ế ẩm, hủ tiếu hiếm người ăn,
trái cây dễ bị hỏng, các thứ đồ nữ trang bán không chạy… Nhưng dẫu sao,
biết giữ khéo léo, hàng hóa cũng có thể bảo toàn được ít nhiều, chứ còn
gặp công an thì mọi chuyện trở nên khó mà lường được.
Cô Lê Thị Hải, bán trái cây dạo, quê ở Bồng Sơn, Quảng Ngãi, buồn bã kể với chúng tôi rằng cô vừa mất một người bạn đồng hương, cô vĩnh viễn không được gặp người bạn ấy nữa cũng chỉ vì công an. Trước đây, cô và người bạn tên Hoa vốn là công nhân hãng giày da trong khu công nghiệp Tân Bình, nhưng vì làm việc tăng ca liên tục mà mức lương quá thấp, lại bị công đoàn, giám đốc ép đủ thứ, hai người nghỉ việc, rủ nhau mua xe ba gác đạp đi buôn trái cây.
Cô Lê Thị Hải, bán trái cây dạo, quê ở Bồng Sơn, Quảng Ngãi, buồn bã kể với chúng tôi rằng cô vừa mất một người bạn đồng hương, cô vĩnh viễn không được gặp người bạn ấy nữa cũng chỉ vì công an. Trước đây, cô và người bạn tên Hoa vốn là công nhân hãng giày da trong khu công nghiệp Tân Bình, nhưng vì làm việc tăng ca liên tục mà mức lương quá thấp, lại bị công đoàn, giám đốc ép đủ thứ, hai người nghỉ việc, rủ nhau mua xe ba gác đạp đi buôn trái cây.
ở Việt Nam thời bây giờ khổ quá, làm gì cũng khổ, đi làm công nhân thì bị ép đủ thứ, đi bán hàng rong, bán trái cây để kiếm vài đồng từ mồ hôi, nước mắt thì lại bị công an rượt đuổi chẳng kém gì người ta lùa súc vật vào lò mổ
Mới bán được ba ngày ở khu công viên Hoàng Văn Thụ thì Hoa bị công an
bắt, tịch thu xe trái cây, phải xin xỏ đủ thứ suốt cả tuần mới được nộp
phạt năm trăm ngàn đồng mà mang xe trái cây về. Đẩy xe về đến phòng trọ
thì chỉ còn nước mang trái cây đi đổ, xem như mất trắng chuyến hàng đầu
tiên gần ba triệu đồng cộng với năm trăm ngàn tiền nộp phạt. Hoa đi mua
tiếp chuyến hàng khác, lại bị bắt, bị nộp phạt vì tính tình thật thà,
chậm chạp, không biết vừa bán vừa chạy tránh công an theo cách của những
người quen nghề. Ở lần phạt thứ hai, Hoa mất hết vốn liếng, bỏ về quê.
Bị người chồng say xỉn chì chiết, đánh đập, Hoa buồn quá, tự kết liễu
cuộc đời bằng chai thuốc trừ sâu.
Cuộc đời bôn ba của cô khép lại vĩnh viễn.
Kể đến đây, Hằng bật khóc, cô nói rằng nếu như có kiếp sau, cô nguyện
làm bất kì con vật gì, miễn đừng làm người bán hàng rong. Mà nếu như
trời vẫn bắt cô đi bán hàng rong thì xin ông hãy thương mà cho cô sang
nước khác để bán, nước nào cũng được, miễn đừng có công an hung dữ là cô
cám ơn. Chứ như ở Việt Nam thời bây giờ khổ quá, làm gì cũng khổ, đi
làm công nhân thì bị ép đủ thứ, đi bán hàng rong, bán trái cây để kiếm
vài đồng từ mồ hôi, nước mắt thì lại bị công an rượt đuổi chẳng kém gì
người ta lùa súc vật vào lò mổ. Giá như họ dành thời gian rượt đuổi lao
động nghèo như cô để mà truy bắt tội phạm thì có lẽ bây giờ, Sài Gòn ít
bị cướp giật, ít có cảnh giết người cướp của rợn người.
Bão vật giá vẫn đang ngày càng leo thang, cuộc sống đầy bấp bênh và bất an của người lao động nghèo nói chung và người bán hàng rong nói riêng ở Sài Gòn đang đối diện với một cơn bão khác giữa tương lai mịt mùng.
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.Bão vật giá vẫn đang ngày càng leo thang, cuộc sống đầy bấp bênh và bất an của người lao động nghèo nói chung và người bán hàng rong nói riêng ở Sài Gòn đang đối diện với một cơn bão khác giữa tương lai mịt mùng.
Những người bán nước ở Hà Nội
Giữ một Hà Nội xưa
Họ là những người bán nước được hiểu theo nghĩa đen cùng đời sống
chật vật, vất vả, đội mưa chịu rét để bán mươi ly nước sấu, vài quả cóc
dầm hay vài ngao thuốc lào, vài bát chè xanh để sống qua ngày. Trong
hương vị ly nước của họ thấp thoáng bóng dáng của một Hà Nội xưa và
tiếng leng keng tàu điện cùng năm cửa ô của một thời xa vắng. Cuộc đời
lao động vất vả của họ chứa đầy thi vị của một người Hà Nội lịch lãm,
chịu thương chịu khó và giàu lòng tự trọng. Điều ấy bây giờ tưởng như đã
quá hiếm ở xứ sở này.
Bà Hương, một người bán nước sấu lâu năm bên bờ hồ Tây kể với chúng
tôi rằng trước 1980, bà là một công chức nhà nước, nhưng sau đó không
lâu, bà cảm thấy mệt mỏi với kiểu làm việc lương ba đồng ba cọc mà phải
đội trên đạp dưới, người có chữ, trí thức phải chịu nhẫn nhục để làm
những việc lặt vặt trong văn phòng, còn kẻ học hành chưa vỡ chữ thì lại
làm quan to, sai khiến lung tung, kệnh cỡm, hợm hĩnh… Bà thấy mất niềm
tin, hết muốn làm việc, bỏ ngang việc, cũng chẳng cần xin xỏ gì và cũng
chẳng cần cầm lấy một đồng chế độ nào, nghĩa là bà trắng tay khi thôi
việc. Sau đó, bà nghĩ đến chuyện hái những quả sấu trên các con phố Hà
Nội để ngâm nước, bỏ mối cho nhiều người cùng bán với bà.
Hôm nào đắt hàng thì bán hết lọ này, hôm nào ế ẩm, vắng khách thì 3 ngày mới hết. Hết một lọ thì lãi được khoảng 70 ngàn đồng, khoảng 15-16 ly.
-Bà An
Vài năm sau, mối nước sấu của bà Hương càng lúc càng đắt khách, nước
sấu trở lại thời thịnh vượng của nó. Vì khi nói về Hà Nội, không thể
không nói về những bờ hồ cùng ly nước sấu chua ngọt, dịu và mát lạnh.
Cuối cùng, người ta kéo nhau ra bán nước sấu, kéo nhau đi hái sấu về
ngâm và phong trào bán nước sấu nổi lên, cái thời nhẹ nhàng, đằm thắm
của ly nước sấu ven hồ bị mất dấu, thay vào đó là sự chộn rộn, chợ búa
của nước sấu Hà Nội bây giờ. Tuy vậy, bà Hương và một số người bạn từng
bán nước sấu lâu năm của bà vẫn cố gắng giữ riêng cho mình một phong
cách riêng, giữ nét Hà Thành một thuở.
Cái nét Hà Thành một thuở được bà An, năm nay 60 tuổi, bạn của bà
Hương giải thích đó là không chém khách, dù là khách thập phương hay là
khách đồng hương thì vẫn phải làm sao cho khách thấy yêu Hà Nội mà tìm
đến, mặc dù bà An không làm việc trong ngành văn hóa Hà Nội, nhưng bà
vẫn ý thức được rằng trách nhiệm giữ một Hà Nội đẹp, thanh lịch và đáng
yêu thuộc về bà, nó không phải của riêng ai, đó là chưa nói đến các quan
chức, có lẽ họ bận bịu với hối lộ, tham nhũng, gái gú gì đó nên họ
không bận tâm đến Hà Nội xưa, còn với những người bán nước sấu như bà,
Hà Nội xưa là một thiên đường.
Thiên đường và địa ngục
Cái thiên đường Hà Nội xưa mà bà An muồn nói đó là nét vui hiện ra
trên gương mặt của khách mỗi khi họ ngồi uống nước sấu, ăn kẹo vừng,
ngắm phố và vui vẻ vì giá nước rẻ, ngon, cảm giác vui giúp họ thấy người
Hà Nội thân thiện và đáng yêu, sẽ còn quay trở lại thăm Hà Nội. Nhưng,
cái thiên đường đáng yêu đó đôi khi thoáng qua trong chốc lát rồi vụt
tắt bởi âm thanh chát chúa của còi hụ xe công an và những tiếng quát
tháo, những gương mặt dữ dằn. Đã nhiều lần bà An gạt nước mặt lội xuống
hồ để sục sạo tìm vớt mấy chiếc hủ, chiếc mẹt bán hàng vì nó bị công an
vứt tất cả xuống đó.
Bà An buồn rầu nói: “Hôm nào đắt hàng thì bán hết lọ này, hôm nào ế
ẩm, vắng khách thì 3 ngày mới hết. Hết một lọ thì lãi được khoảng 70
ngàn đồng, khoảng 15-16 ly. Thế thôi, vì những ai chụp ảnh thì họ mới ra
đây còn họ ngồi hết ở hai bên cửa chùa. Bác ngồi xa ở đằng này thì bán
rẻ hơn một chút, để người ta nhớ nhiều lần người ta sẽ tới. Kể cả học
sinh hoặc những người đi du lịch, một năm họ đi du lịch một lần, hoặc
hai, ba năm người ta đi một lần, người ta nhớ mình người ta về thôi. Có
cái đặc điểm là như thế. Mình bớt đi một miếng thì người ta nhớ tới mình
thôi. Năm nay bán khó khăn lắm! Nói chung thì bên hàng kia họ bán cũng
được, họ có người nhà làm công an, nó không bị bắt mấy, nó có bị bắt
cũng chỉ là bắt cho người chung quanh không nói gì còn về thì nó lại lấy
được đồ về, không như mình…!”
Bên hàng kia họ bán cũng được, họ có người nhà làm công an, nó không bị bắt mấy, nó có bị bắt cũng chỉ là bắt cho người chung quanh không nói gì còn về thì nó lại lấy được đồ về.Bà An nói thêm rằng với cái nghề bán nước sấu, kẹo vừng mỗi ngày chỉ kiếm được từ 50 ngàn đồng đến 100 ngàn đồng của bà, đôi khi cũng cần có thế lực. Như bà, chẳng có thế lực nào giúp đỡ nên vất vả vô cùng, phải ngồi ở góc khuất, không dám mời chào khách, bán với giá bằng nửa người ta, nước sấu cũng ngon và chất lượng, sạch sẽ hơn nhưng chẳng kiếm đủ sống. Vì những người ngồi ngay trước cổng chùa Trấn Quốc, cách bà không bao xa đều có công an che chở, chỉ cần bà mời chào một tiếng thì bị công an dẹp ngay, bởi bà làm chướng tai gai mắt những người kia, mà họ đều có người nhà làm công an.
-Bà An
Không những thế, có lần, bà An cảm thấy không thể sống nổi vì bị rượt đuổi thường xuyên, phải chuyển sang bán chè đậu, gánh đi dọc các con phố mà bán, nhưng cũng không yên, hễ đã bị công an chiếu rồi thì đằng nào cũng không thoát. Riết rồi thành mệt mỏi, chán chường và liều lĩnh, bây giờ, bà An cảm thấy không sợ công an nữa, nếu cần, họ cứ ném, cứ đổ của bà đi rồi bà sẽ sắm gánh hàng khác mà bán. Vì bà luôn tin rằng người Hà Nội lịch lãm một thời vẫn còn rất nhiều ở Hà Nội, họ sẽ lên tiếng bảo vệ những người lao động nghèo khổ như bà.
Bà An kể thêm: “Có lần bỏ nghề thì đi bán rau, bán rau không có chỗ ngồi đâu. Sau công an đuổi quá thì bỏ không bán rau, thế là về mới nấu chè đỗ đen gánh rong. Mới đầu cũng không có chỗ ngồi đâu. Gánh rong đi bán chè, một nồi đỗ đen, một ngồi đỗ xanh một gánh. Sau đó có mấy bà đi tập thể dục buổi sáng họ nhìn thấy họ bảo mai bà ra đây mà ngồi, chứ gánh rong không gánh nổi đâu. Đó là chưa kể lâu lâu nó đổ nguyên gánh chè của mình xuống hồ, nó bảo thế xem mai có gánh nữa không? Mấy đứa này (những người ngồi bán được công an bảo kê) nó biếu tiền công an để bắt mình.”
Hà Nội vào Đông, những người đàn bà ngồi thu lu ở một góc phố nào đó hay ở bờ hồ lạnh lẽo bán nước kiếm sống qua ngày, cuộc sống chật vật, được chăng hay chớ của họ lại mang âm hưởng gì đó rất Hà Nội. Những tiếng rao, những tiếng mời chào của họ như khảm vào Hà Nội một thanh âm khác cất lên từ những bi thảm kiếp người. Một kiếp người cần lao giữa lòng thủ đô!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
No comments:
Post a Comment