Search This Blog

Hoi Nghi Dien Hong

Friday 28 September 2018

TỰ TRUYỆN ĐẶNG VĂN THẾ

“Tử tù bị lãng quên” Đặng Văn Thế và tự truyện cuộc đời

Đặng Văn Thế (39 tuổi), ở Mỹ Sơn, Đô Lương, Nghệ An, là tử tù đặc biệt nhất trong số những tử tù, là trường hợp hy hữu trong lịch sử tố tụng Việt Nam. Bị xử tử vì vận chuyển ma túy, nhưng do khai ra đồng bọn nên được hoãn thi hành án, hắn bị tạm giam suốt 11 năm trời thì được Chủ tịch nước ân xá tha tội chết.

Hiện đã chấp hành án được 15 năm, với thái độ cải tạo tốt nhưng do thời gian tạm giam quá lâu, Thế vẫn không đủ điều kiện đặc xá đợt này. Nhưng không nản chí, hắn yên tâm lao động, cải tạo, thời gian rỗi còn làm thơ, viết tự truyện, truyền cảm hứng sống và phấn đấu cho biết bao phạm nhân mang trọng tội ở một trại giam phía Tây Nam Nghệ An.
Cô đơn trong trại
Chỉ học đến lớp 4 rồi bỏ, lớn lên Thế đi phụ xe khách tuyến Vinh – Kỳ Sơn. Công việc khá vất vả mà chẳng ổn định, đến giữa năm 1997 thì hắn nghỉ ở nhà lấy vợ, tính tìm việc khác. Trong một lần được Nguyễn Tất Dũng rủ đi dự đám cưới anh vợ Dũng ở Tương Dương, Thế được rủ đi đưa hàng thuê. Đang không có công ăn việc làm, thấy việc đưa hàng cũng đơn giản mà lợi nhuận cao, 1 triệu đồng/lần nên Thế đồng ý ngay. Đến lần thứ 3 thì cả hai bị Trạm kiểm lâm và Công an huyện Tương Dương bắt quả tang cùng với 20kg thuốc phiện.
Ngày 23/6/1998, TAND tỉnh Nghệ An xử tử hình cả hai về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, Dũng bị đưa đi thi hành án không lâu sau đó, còn Thế do hợp tác thành khẩn khai báo nên được cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An làm công văn xin hoãn thi hành án để tiếp tục điều tra mở rộng. Ngày 23/6/2009, một dấu mốc trọng đại trong cuộc đời khi Thế được khai sinh lần thứ 2 nhờ sự khoan hồng của pháp luật và tấm lòng nhân ái của Chủ tịch nước.
Bị xử tử hình và tạm giam chờ thi hành án đồng nghĩa với việc nằm chờ chết, nhưng là cái chết không được báo trước. Suốt 11 năm ở trại tạm giam là 11 năm liền Thế thức thâu đêm suốt sáng, thỉnh thoảng mệt quá mới thiếp đi được một lúc, nỗi trằn trọc nơm nớp lo sợ trước cái chết đã ăn sâu vào tiềm thức, tác động lớn đến sức khỏe và hệ thần kinh của hắn. Ngày 16/7/2009, hắn được chuyển đến Trại giam số 6 (Thanh Chương, Nghệ An) để chấp hành án.
Sở dĩ tôi nói Thế cô đơn trong trại bởi lẽ người vợ mới cưới sau khi nghe tin Thế bị tuyên án tử hình thì bỏ đi, hai bố mẹ nghèo năm nay đã ngoài 80 tuổi dù rất thương con nhưng cũng không có điều kiện thăm con. Một anh trai đã mất vì ma túy, người anh cả cũng ngồi tù vì ma túy, hai chị gái lấy chồng ở quê cuộc sống hết sức khốn khó, cả năm may ra chỉ đến Tết mới xuống thăm em trai được một lần.

Thế là một trong những phạm nhân hoàn cảnh và thiếu thốn tình cảm của người thân. Thời gian bị tạm giam quá nhiều với nỗi ám ảnh bị xử tử vẫn luôn thường trực trong Thế, dù giờ đây hắn đã được tha tội chết. Đêm nào ngủ hắn cũng gặp ác mộng. “Cứ nhắm mắt lại là tôi mơ bị đưa trở về trại tạm giam, bị xiềng xích…”. Nhiều hôm hắn bật dậy lúc nửa đêm, mồ hôi vã ra như tắm, hoặc hoảng loạn hét ầm ĩ làm cả phòng giam tỉnh giấc.


Đặng Văn Thế bên tập tự truyện đoạt giải.
Một ngày của Thế cũng bình thường như bao phạm nhân khác, 5h30’ tỉnh dậy vệ sinh cá nhân, 6h đi lao động, khâu bóng đá, trưa nghỉ ăn rồi chiều lại tiếp tục khâu bóng… Nhưng đối với một người ngồi tù lâu như hắn thì một ngày dài lắm và hắn đang đếm từng ngày để được về. Đợt đặc xá 2-9 vừa qua, Thế cũng được Ban giám thị và Hội đồng cán bộ quan tâm, lập danh sách đề xuất… nhưng do thời gian tạm giam của “tử tù bị lãng quên” này quá dài nên theo luật thì chưa đủ điều kiện đặc xá. “Tôi trân trọng từng ngày, đếm từng ngày một, cố gắng cải tạo tốt và giữ gìn, không phạm sai sót gì để được trở về sớm ngày nào hay ngày đó”. Đó là điều mà Thế nhắc đi nhắc lại với tôi trong suốt thời gian gặp.

Chỉ mong khi về kịp bón cho bố mẹ thìa cháo…
Khuôn mặt góc cạnh, lông mày lưỡi mác giữ dằn nhưng ánh mắt nay đã chứa đựng sự bình thản, cách trò chuyện vẫn nguyên nét mộc mạc, chất phác, Thế thành thật: “Số tôi đi tù đen nhưng đen đỏ, đen ở chỗ số người vào cùng thời với tôi bây giờ người ta về hết rồi, mình tôi ở lại. Nhưng đỏ là cán bộ ai cũng quý, tôi có lỡ sai sót gì thì cán bộ gặp gỡ bảo ban liền”.
Quả thật Thế là một trong những đối tượng đặc biệt, được các cán bộ ở Trại giam số 6 tận tình quan tâm, danh sách giảm án năm nào cũng có Thế. Thế được Hội đồng giáo dục bầu vào Ban tự quản, đây là cầu nối trung gian giữa Ban giám thị, Hội đồng cán bộ với phạm nhân, được đi họp, tiếp thu ý kiến và về truyền đạt lại cho các phạm nhân khác. Ngoài ra, Ban tự quản có trách nhiệm quan tâm động viên, đốc thúc các phạm nhân khác trong quá trình lao động, cải tạo, ứng xử hằng ngày.
“Dù được sống nhưng phải mấy năm nữa mới được về, mà đã ngồi tù lâu thế, có bao giờ anh có ý định bỏ trốn không?”, tôi hỏi Thế. “Từ “trốn” không bao giờ có trong đầu tôi nhà báo ạ, bởi tôi rất quý trọng cuộc sống này, tôi chỉ mong có cơ hội về khi bố mẹ tôi còn sống, còn được tự tay bón cho bố mẹ thìa cháo là mãn nguyện lắm…”, nói đến đây, mắt Thế ngấn nước.

40 tuổi đầu, vợ con không có, tiền bạc không có, nghề nghiệp không có, đường về dù gần nhưng tương lai mù mịt quá. Thế chỉ mong kịp về để phụng dưỡng cha mẹ già nay đã ở tuổi gần đất xa trời, sức khỏe yếu, hoàn cảnh hết sức khó khăn, rồi sau đó đi đâu, làm gì mới tính đến. “Chắc là làm ruộng ông bà để lại cho chứ biết làm chi khác mô, ngồi tù lâu rứa, tôi giờ tụt hậu rồi”. Chỉ ước giá như được quay trở lại, giá như không phạm sai lầm, giá như không vì đồng tiền mà mờ mắt, đi buôn cái chết trắng kia thì cuộc đời Thế đã khác.

Cũng bởi trân quý từng ngày nên Thế vẫn từng hứa với các cán bộ không làm điều sai trái, vì “nếu tôi làm gì vi phạm thì chính bản thân tôi là người giết chết cha mẹ đầu tiên”. Chính sự quan tâm, động viên sát sao của các đồng chí giám thị và cán bộ ở trại đã tạo cho Thế niềm tin, giúp hắn cảm nhận được tình yêu thương trong những lúc cô đơn nhất và vượt qua những nỗi đau, chấp hành nội quy, yên tâm cải tạo.

Lúc rảnh rỗi, Thế vẫn làm thơ, viết nhật ký. Thơ Thế cứ phảng phất một nỗi buồn u uất, không lối thoát, về sự sám hối muộn màng, nhưng trong đó tôi cũng cảm nhận được tình cảm chân thành đối với mẹ cha, với đồng chí giám thị và các cán bộ quản giáo. Thế tự hào khoe với tôi tập thơ và cuốn tự truyện đã đạt giải nhất cuộc thi "Sự hối hận và niềm tin hướng thiện" do Tổng cục VIII, Bộ Công an phát động.

Hiện Thế đang viết tiếp phần 2, kể về những năm tháng chấp hành án ở Trại giam số 6. Trình độ văn hóa lớp 4, viết bằng tay trái, câu từ đơn giản và có chỗ còn hơi ngô nghê nhưng mắt hắn sáng rực lên khi nói về những dự định nhen nhóm trong phần 2 cuốn tự truyện. Thế nhờ tôi gửi lời cảm ơn đến các nhà báo, đặc biệt là nhà báo Việt Anh, Báo An ninh thế giới; nhà báo Việt Thắng, Báo Lao động vì đã quan tâm đến cuộc đời một tử tù như hắn, từ khi hắn còn bị biệt giam…

Điều Thế cần lúc này có lẽ là niềm tin và tấm lòng vị tha của mọi người, như chính những lời mộc mạc mở đầu phần 1 cuốn tự truyện: “Bạn đọc thân mến, khi bạn đọc giở những trang sách này, tôi mong bạn đọc hãy dành cho tác giả một sự tha thứ và một tấm lòng vị tha… Viết lên những lời tự sự này không phải để tôi thanh minh hay biện minh cho tội lỗi của mình mà tôi muốn viết lên để mong làm một tấm gương hoen ố cảnh báo cho những ai đó đã và đang có ý định làm giàu bằng việc gieo rắc cái chết trắng…”

 

NGUYÊN SƯƠNG * ĐỒI BÔNG


ĐỒI BÔNG

 NGUYÊN SƯƠNG
Một hai ba, nhứt nhựt quá tam, đã hai lần rồi ra đi không thoát, lấn thứ ba này không thoát có nước về nhà đi ăn mày, rồi đời sống sẽ ra sao, ngủ đình ngủ chợ, tương lai của đám con về đâu, bạn bè ngoảnh mặt người thân lánh xa, sống vô gia cư như vậy một ngày sẽ bị ruồng bỏ, không may mà bị bắt trở lại đưa về vùng kinh tế mới thì sẽ làm ma mới rừng thiêng nước độc đó mà thôi. 
Đã nhiều người lắm tiền nhiều của năm bẩy lần ra đi thất bại còn tiền về mua chuộc phường ấp cho dù hồn ma cũng sống lại như chơi, còn bốn mẹ con chúng tôi kể từ ngày trở về thành phố, sống coi như đã chết bởi vì không còn hậu khẩu, tên tuổi đã bị cướp đi vào một đêm tối trời áp giải lên xe đưa đến một không thể sống được, đào tẩu trở về không nơi nương tựa, tôi đã cắm lều che vải sống như kẻ du mục rày đây mai đó trong cảnh màn trời chiếu đất làm bạn với đám cô hồn uổng tử trong các bãi tha ma, đêm nào mưa gió nhiều tạt ướt đành phải ôm con ngồi chờ đến sáng. Rồi không biết từ đâu đổ về càng ngày càng nhiều người đến ở, cho nên đêm đêm thấy chập chờn thấp thoáng ở bãi tha ma nhiều oan hồn sống lang thang giữa đêm trường đói rét. 
Hồi chiều, người chủ tàu báo cho tôi biết không còn chờ đợi được nữa, phải ra đi trước Tết sẽ khởi hành vào đêm ba mươi mà hôm nay đã là hai mươi tám Tết rồi, vỏn vẹn chỉ còn hai ngày nữa là tôi sẽ rời bỏ nơi này, tự nhiên tôi cảm thấy bùi ngùi không như những lần ra đi trước kia, lòng nôn nao man mác không biết nên buồn hay vui, mười phần chết chỉ còn một phần sống, giao sinh mạng cả bốn mẹ con cho biển cả hỏi sao không hồi hộp, phần lo đi không suông bị bắt nhưng thôi đến nước này thì đành phải đưa chân, biết đâu trong cái chết tìm ra con đường sống. 
Ông ta nói vợ chồng tôi thương hoàn cảnh lam lũ của chị cho mẹ con chị theo chúng tôi, nhưng lương thực chị phải lo phụ với chúng tôi, chúng tôi cũng đã hết sạch bởi những lần đi thất bại, chúng đã nhớ mặt, nếu không may cho chuyến đi này tôi bị bắt lại thì tôi chỉ có con đường chết, cho nên mọi việc chị phải cẩn thận, ngày mai thực phẩm và con trai lớn của chị theo tôi nằm dưới ghe trước, còn vợ tôi sẽ đón chị theo điểm hẹn, nói xong ông ta vội lẩn nhanh vào bóng đêm. 
Còn lại mình tôi tần ngần giữa trời tối. Mùi rong biển theo gió thoảng đưa vào bờ, tôi hít vô lòng phổi để nghe mát rượi ngọt ngào yêu thương, nơi đây là quê hương nơi tôi đã được sinh ra và lớn lên với những hàng tre già cao ngất, thân thương những buổi hẹn hò đầu đời khi vừa tuổi trăng tròn 16, bao dấu yêu với kỷ niệm thời thơ dại, yêu đương nồng thắm người chồng mà hằng đêm thường thức ghìm ta súng dõi mắt với quân thù, bao nhiêu thương nhớ có lúc xót xa với kỷ niệm, mà ngày mai tôi sẽ rời xa, trong một chuyến ra đi vô định chỉ có trời xanh mây nước, trong sự sống chết may rủi để tìm một con đường sống cho bốn mẹ con chúng tôi.
 Sống dưới chế độ Cộng Sản không có con đường nào khác hơn để lựa chọn biết rằng cầm chín phấn chết trong tay nhưng cũng phải ra đi, nước mất nhà tan, bao nhiêu con rồng cháu tiên phải bồng bế nhau chạy ngược xuôi để tìm con đường sống trong cái chết, mà loài vô thần đang chực vây quanh để thuêu hủy nó đi, nghĩ đến điều đau thương đó tôi lần thần khấn nguyện xin ơn trên hãy che chở cho chúng con, Chúa hãy ban phước lành nâng đỡ chúng con qua vùng bóng tối đau thương này, tôi là người ngoại đạo nhưng tôi xin có Chúa hằng cứu giúp, Chúa là đấng toàn năng, nếu trên con đường con đi chẳng may có mệnh hệ nào, xin Chúa hãy ra ơn dìu dắt những đứa con của con được bình yên đến bến bờ tự do. 
Người bán hàng rong khuya đánh thức tôi trở về thực tế, thì ra tôi ngồi nơi này đã lâu, đứng dậy phủi hết lớp đất cát dính trên người, trở về túp lều mà bốn mẹ con tôi tạm sống, đứa con trai lớn vẫn còn thao thức chờ tôi, nó nói hôm nay con không bán được hết vé số nên không có tiền cho mẹ mua gạo, con đã nấu mấy củ khoai ngày qua còn lại mẹ hãy ăn đi, tôi nức nở, tội nghiệp con tôi, ôm nó vào lòng nghe mùi khét nắng trong tóc, đôi chân nhỏ bé của nó đã phải lang thang khắp trong cùng ngõ hẻm để kiếm sống, tuổi thơ của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa đây sao? Đâu đâu cũng giăng đầy biểu ngữ nào hòa bình tự do hạnh phúc mà con tôi, đứa con đầu đời với tình yêu tuyệt vời của tôi, nó đã khổ sở như thế này đây! Tôi thầm nói, không nhất định là không, ngày mai con sẽ không khổ nữa, mẹ phải tranh đấu để không thể lùi bước cho dù sự sống ra đi là rất mong manh, nhưng cũng phải đi. 
Nhớ người chủ tàu nói lại lấy tiền đâu ra mua thực phẩm đây, tất cả có cái gì cũng đã bán hết rồi từ hai đợt đi kỳ trước, chỉ ngoại trừ đôi bông còn sót lại là chưa bán, đã có nhiều lần định bán để cho đám con no lòng trong những ngày đói kém, nhưng tôi đã cố giữ nó lại không bán đi, bỏi lẽ tình yêu kỷ niệm của người chồng thân yêu, mà mãi sau ngày cưới anh mới kể cho tôi nghe rằng gia đình anh nghèo cưới em anh phải bán chiếc xe đạp cộng thêm tiền dạy kèm mỗi đêm mới đủ mua đôi bông cho tôi trong ngày cưới, cho nên đã bao nhiêu năm tháng với đời sống khó khăn tôi cũng không nỡ bán nó, tôi trân trọng tấm tình yêu của anh đã chắt chiu cho tôi, nhưng đến hôm nay tôi không thể giữ nó được nữa, phải bán nó đi để cho cục diện ngày mai, ít nhiều gì có còn hơn không, đám con anh cần sống, em phải bán nó đi, kỷ niệm của tình anh, làm sao em không khỏi đau lòng xót xa nhớ đến ngày anh phải cuốc bộ nhiều cây số để làm thêm mới đủ.
 Bởi vì vườn hống vừa hé nụ vương hoa kết trái, rồi thời gian thấm thoát chưa được bao lâu, đứa con đầu lòng chưa ra đời, thì có lệnh tổng động viên, anh phải lên đường nhập ngũ. Tình yêu của chúng mình ngày ấy chưa thấm mầu thì đã phải chia xa, anh vào Thủ Đức, tình yêu cũng xa dần từ dạo đó. Rồi sau đó một năm họa hoằn về phép được vài ngày lại vội vã ra đi khi mà cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Anh nói anh không thể bỏ bạn bè chiến đấu cho dù ngày mai anh không biết sự sống còn ra sao, cho nên anh vội vã. Rồi những đứa con tình yêu của chúng tôi cũng vội vã theo thời gian lần lượt ra đời.
 Anh nhớ ngày đó chỉ còn kỷ niệm đôi bông ngày cưới và cuối cùng là chiếc áo, với tấm thẻ bài mà người bạn cùng khóa mang về, ngày ấy tôi đã khóc ngất lên ngất xuống. Thế là hết! Anh đã chối bỏ cuộc sống xa lìa tình yêu của tôi, của người vợ trẻ đang độ tuổi thanh xuân đương độ, mà đêm đêm với giấc ngủ chập chờn khi nghe tiếng súng xa vọng về. 
Ngày đó tôi còn nhớ lần về phép cuối cùng như một điều chẳng lành báo trước, đêm cuối cùng của ngày phép. Tay gối đầu, hai đứa tôi yên lặng bên nhau, qua khung cửa ánh trăng buồn treo lơ lửng soi xuống trần thế đau thương như cuộc tình sắp chia xa của chúng tôi, chiến tranh thật là tàn ác, nó làm chia lìa và ly tan, tang thương dày xéo đổ lên đầu người dân Việt từ đời này qua đời khác. Nằm trong vòng tay êm ấm của anh tôi ấm ức, anh dỗ dành nói chiến tranh là vậy, mình phải hy sinh không thể sống riêng tư cho mình được, rồi tiếp tục nói ; “ Lỡ mai anh không vê, em hãy đem con về quê nhờ mẹ mà nuôi con cho khôn lớn”. 
Đó là lời cuối cùng anh để lại cho tôi. Nhưng anh biết không lời của anh khi miền Nam vẫn còn là miền Nam, chứ Cộng Sản chiếm cứ rồi thì thôn quê hay thành thị đều giống nhau. Rồi không như anh tưởng, miền Nam thật sự thất thủ. Người dân biết được mặt thật của Cộng Sản thì đã quá trễ vì cá đã vào rọ. Đêm đêm loa phóng thanh hội họp người dân rời thành phố để đi xây dựng vùng đất hứa hẹn. Mang danh là vợ Ngụy quân cộng thêm tội buôn bán trái phép, tên tôi đứng đầu sổ để ra đi đến vùng kinh tế mới mà thời gian ở đó tôi còn nhớ là một vùng khô cằn sỏi đá cây còn mọc không được thì làm sao khoai có củ. Nhà ở thì không ra nhà, lá thì không ra lá, tôi còn nhớ tôi chắp vá bất cứ thứ gì có thể chắn gió che mưa, đêm nào trời giống gió nhiều, thổi lạnh buốt xương không tài nào chịu được.
 Phần bụng đói, nhìn con trong giấc ngủ hồn nhiên, lòng tôi quặn thắt, tôi muốn khóc nhưng không sao khóc được, mà nếu có khóc có lẽ sẽ là máu trong nước mắt. Tôi thấy mình nhỏ bé và cô thế quá, biết về đâu, biết ai đây, không ai. Tôi nghĩ đến Chúa, chỉ có Chúa mới có quyền năng dắt mẹ con chúng tôi ra khỏi địa ngục đoạ đầy này, cho nên ngày ấy tôi đã cầu nguyện hàng giờ khi ảnh vật im lìm chìm vào giấc ngủ, chỉ còn nghe xa xa tiếng chim rừng vọng đến trong đêm trường cô tịch não nùng cho những kẻ đang đói lòng. 
Rồi ngày ấy, trời bắt đầu chuyển sang mùa đông, mưa phùn lất phất, tôi nhớ đã đếm đầu ngón tay gần một tháng hơn chờ tiếp tế lương thực nhưng vẫn chưa thấy, như lời hứa suông, không khác nào đem con bỏ chợ. Tôi suy nghĩ mãi làm cách nào đây, bốn mẹ con chúng tôi không thể chết nơi rừng núi hoang vu này, rồi tôi tự nói với chính mình phải can đảm rời bỏ nơi này cho dù lưỡi lê hay búa rìu cũng không sợ, và không thể để yếu hèn mà ngã quỵ thì không bao giờ có cơ hội mà đứng dậy. 
Cho nên tôi rất cần tinh thần minh mẫn trong lúc này và tôi gọi thầm tên người chồng thân yêu nơi nào đó một góc trời hoang vu của núi đồi ; “ Nếu hồn thiêng anh còn hiển linh hãy giúp em nhiều nghị lực để vượt qua cơn sóng dữ này.” Và tôi gọi tên anh với những lời thân thương nhất: “ Anh biết không. Vì tình yêu của anh, em phải sống.” Tôi nhớ lúc đó thật là đau thương, tôi ôm tấm áo của chồng tôi, chiếc áo cũ rích, rách nhiều chỗ chàm vá và đã bạc màu cùng với ngày tháng cực khổ, tôi đã mặc nó trong những ngày trời đông rét mướt, nó đã theo tôi khắp nông trường đó. 
Rồi ngày đó trong sự chờ đợi, càng ngày càng tuyệt vọng, lương thực nmhuu một cái bóng mờ trong sa mạc mà chúng đã hứa cả mấy tháng hơn rồi, không thể ngồi chờ trong một đêm kiên quyết tôi phải rời bỏ nơi này nhanh chừng nào hay chừng nấy, vẫn biết ngày mai rồi sẽ ra sao, có ra sao cũng mặc, khuya đêm nay phải ra đi tôi không hề chợp mắt, cầu nguyện và cầu nguyện, Chúa hãy giúp con, kẻng vừa đổ canh tư là tôi lặng lẽ dắt con tôi xuống đồi. May mắn làm sao, đêm nay, sương khuya vẫn còn dầy đặc cho nên mẹ con tôi qua cổng trại mà đám lính canh không ai hay biết gì, có lẽ nhờ ơn chúa nên hôm nay sương khuya mới dầy đặc hơn mọi khi, nghĩ đến điều được ơn Chúa, nước mắt tôi tuôn rơi mà những ngày đó tôi lại không có giọt nước mắt để mà khóc. Thế là thoát nạn, người dân ngày đó biết được bốn mẹ con chúng tôi từ kinh tế mới trở về, họ thương cảm nên cũng no lòng. Để rồi về đến quê nhà, tưởng mẹ già ra đón nào ngờ cửa đóng then cài, nhà đã bị tịch biên sang chủ mới. 
Người hàng xóm nhanh miệng cho tôi biết, mẹ già không chống chọi được. Ruộng vuồn chia cắt, bao nỗi ưu phiền, mẹ đã nằm xuống không người thân bên cạnh, khi những chiếc lá vàng cuối sắp sửa lìa cành là lúc mẹ lìa đời. Mộ mẹ bên đồi hoang vắng, hàng xóm đắp sơ sài. Lúc dó tôi còn nhớ đã khóc như một đứa trẻ ngày nào còn nhỏ cần mẹ, đắp thêm mộ phần mẹ khắc chữ dựng bia để thương nhớ. Tưởng đâu tuổi già bóng xế được nương cậy, nhờ thời son trẻ mẹ đã một đời lặn lội lên non, xuống đoài, nuôi con không lớn quên mẹ, vứt tuổi xuân bên đường chồng chất đôi vai không một ngày vui hạnh phúc. Chiến tranh như hung thần, tôi thù ghét nó, nó đã giết đi bao cuộc đời son trẻ của người đàn bà Việt nam. Nhìn đám con tủi phận cho mình, niềm hy vọng cuối cùng đã tan về đâu đêm nay, con sáo trên cành như cám cảnh tiếng hót như thương xót cho đời người sao lắm đau thương. 
Thế rồi sau ngày đó, ngày mới bắt đầu. Ngày ngày lội sâu bới từng đống rác tìm bao bịch nylon, mùi hôi thối xông lên nồng nặc nhưng biết làm sao hơn. Những đứa con cần sống rồi tôi đã không nan từ với công việc gì buốn bán mánh mung giành giựt với những tên quản lý thị trường, mà ngày đó tôi còn nhớ không còn sợ báng súng là gì. Những ngày đêm mưa nắng, đêm về thì ngủ dưới gầm cầu mai thì bãi tha ma, đêm nào nghe động tĩnh thì ba hồn bảy vía chạy cho nhanh để chúng bắt được trả về kinh tế mới thì có nước chết.
 Cho nên tôi phải tranh đấu, tôi lúc đó như con hổ đói, lúc nào cũng chực sẵn dành mồi, để sau đó rồi một mình trong đêm vắng, tôi thổn thức, tôi không còn ngày xưa của anh nữa, của người chồng thân yêu, của những lúc hẹn hò...anh thường vuốt tóc tôi rồi khen mái tóc tôi dài như bóng dừa quê anh. “ Anh biết không, mái tóc ngày xưa anh yêu quý không còn nữa, em đã cắt mái tóc đó kể từ ngày Cộng Sản chiếm miền Nam, thay vào đó em đã cột từ trước ra sau gáy nhiều khi nhìn gương em không còn nghĩ là em nữa. Tại thời thế tạo em như vậy.
 Tình của em đã theo anh chết từ ngày hay tin anh nằm xuống, không một lời từ giã với em, với người mẹ già hằng đêm cầu kinh khi hỏa châu rơi. Ai đã vuốt mắt cho anh, bạn bè có còn không hay họ đã vội vã chạy để giữ mạng sống, để dành từng tất đất hơi thở cho miền Nam thân yêu trong lửa bỏng dầu sôi, nên họ không còn nhớ đã bỏ quên anh nơi nào đó trong chốn rừng thiêng mà chỉ có tiếng chim buồn tiễn đưa anh. Cho nên em phải sống, sống cho những đứa con tình yêu của chúng mình ắt đến bờ Tự Do”. Nhìn con trong giấc ngủ mê say, chúng đâu biết rắng mẹ chúng ngày mai bán đôi bông kỷ niệm, để dọn cho chúng một lối đi đầy hứa hẹn. 
Thế rồi ngày ra đi đã đến. Từ chiều giờ nằm ở điểm hẹn vẫn không thấy động tĩnh gì cả, chẳng lẽ có chuyện gì không may xẩy ra? Canh một qua rồi, bụng nghe cồn cào bởi lúc chiều lo quá nên quen ăn, phần thì bị muỗi cắn. Đêm ba mươi sao tối đen như vậy, đưa ta không thấy xa xa nghe sóng vỗ vô bờ lóng nôn nao, rồi tôi lại bắt đầu cầu nguyện để lấy lại tinh thần. Tôi rất hy vọng ở một đấng tối cao, ngài sẽ không bỏ rơi mẹ con tôi. Đang miên man suy nghĩ chợt nghe tiếng chim rú ba lần, tôi biết giờ đi đã đến, mạnh dạn cõng đứa con nhỏ trên lưng với chiếc đai cột từ sau ra trước thật chặt, và tôi thầm nói với chính mình, phải bảo vệ đứa con, kỷ niệm tình yêu cuối cùng này của tôi. 
Con hãy ngủ yên nhé, ngày mai bình minh sẽ đến với con, đứa con kế nó như hiểu biết lặng lẽ đi xuống tàu. Mọi việc êm xuôi, đúng ngay mai có bình minh nhưng bến bờ là mênh mông, nhưng dầu sao cúng đã thoát khi đã định thần lại mới biết tàu dài độ 20 m, người thì lố nhố khoảng bẩy tám chục nhiều là đàn bà và con nít, có những người chưa bao giờ biết biển là gì nên say sóng nằm như chết, riêng mẹ con chúng tôi tuy ốm nhưng dai sức bởi vì năm tháng dãi dầu lăn lộn với cuộc sống sương gió nên tôi cũng khoẻ hơn mấy người đàn bà cùng chuyến tầu. Đi đã ba ngày hai đêm, tàu nhẹ nhàng lướt theo ánh trăng im lìm mà đi. 
 Biển êm trời êm sương lạnh rồi tôi nghe mặn ở bờ môi thì ra tôi đã khóc mà những ngày gian khổ với bọn vô thần tôi đã khô cằn chai lì để bây giờ nước mắt cứ trào dâng. Tôi không buồn lâu, thương người chống xấu số, thương cho dân Việt đau thương muôn đời bị trị trong thống khổ đành bỏ nước lìa xứ xa quê, nơi chôn nhau cắt rún bao giờ trở về được hát khúc hoan ca. Thuyền vẫn êm đềm trôi đi hy vọng được tàu vớt. Trong niềm hy vọng mong manh bất chợt từ xa nhón lên một chấm đen tiến lần lần lại chúng tôi.
 Chúng tôi mừng quá đỗi hy vọng gặp được tàu vớt bởi vì trên tàu của chúng tôi vài người bắt đầu yếu sức vì thiếu nước, lúc đó chúng tôi dùng hết khả năng để báo hiệu. Dần dần sự báo hiệu đó tiến lại gần, thì ra lũ đầu trâu mặt ngựa, hai tàu chúng ép thuyền chúng tôi vào giữa và bắt đầu lục soát. Sau là đến đàn bà con gái, khi chúng trả những người đàn bà về chỉ còn nằm lả đi vì phần bị sóng, bị đói mấy ngày qua. Tôi may mắn không bị chúng để ý đến, có lẽ mặt mày tôi bôi đầy dầu mỡ, tóc tai rối bù. Sau khi chúng nhổ neo không quên mang theo 3 em gái khoảng 14 đến 17. Tôi ứa nước mắt không biết các em có còn sống để rồi biệt mù tăm cá, tội nghiệp các em quá hay sau cơn dục vọng chúng quăng các em xuống biển để làm mồi cho cá.
 Tàu lại tiếp tục đi độ nửa ngày đường nữa thì gặp thêm một bọn quỷ dạ xoa, lần này không còn gì nữa thì chúng hung dữ dã man hơn hết. Bắt đàn bà con gái sang tàu chúng hãm hiếp hơn nửa ngày, có người đàn ông nóng lòng cho vợ, chúng đập đầu ngay và liệng xuống biển. Nên sau đó không ai còn dám hó hé tụi nó muốn làm gì thì làm. Thực ra đói quá còn hơi sức đâu nữa mà chống cự nổi những tên hải tặc dã man cầm thú. Sao trời laị để cho những tên gian ác sống, còn những người vô tội phải chết oan trong đau đớn. Khi chúng thả neo trong đó có người đàn bà về đến tàu chỉ thều thào mấy câu nhờ giúp đỡ con của chị, chị nắm tay tôi gửi gấm nhẹ nhàng ra đi. Dù không quen biết nhưng mấy ngày qua nằm gần bên nhau trên tàu sống chết này tôi cũng buồn rưng rức thương cho số phận không may của chị trên bước đường tìm tự do chưa tới đích thì chị đã nằm xuống. 
Bây giờ thì lòng biển cả tiếp nhận chị, chúng tôi cầu nguyện và đưa xác chị xuống lòng biển, tôi thầm khấn vái hồn chị linh thiêng hãy giúp chúng tôi đến được bến bờ tự do. Đã hai lần tàu bị cướp tôi đều thoát nạn như lời cầu xin của tôi được chúa ban ơn, tôi nghĩ như vậy dù tôi có dơ dáy cỡ nào cũng khó lòng thoát với lũ man rợ.
Đêm lại xuống, tàu chúng tôi bây giờ như bóng con tàu ma, tất cả nằm như chết muốn ra sao thì ra, tàu bây giờ thả trôi theo sóng biển chỉ còn tôi và một vài người đàn bà là còn chút sức vì vậy chúng tôi mới giúp đỡ cho những người bên cạnh. Nhìn những vì sao đêm rời rạc cũng như chúng tôi đang lạc loài cô đơn trong đêm đen, chưa thấy đâu bến bờ. Lần này chúng tôi không còn hơi sức đâu làm hiệu nữa, hai lần tín hiệu hai mất mát, may mắn lắm mới được từ cõi chết trở về, cho nên lần này phó mặc cho trời đất. Rồi lần thứ ba lại đến, thằng đầu xỏ không qua nó sai đàn em bắt hết đàn bà con gái lớn nhỏ qua tàu hắn, lần này coi như chết nắm phần chắc trong tay. 
Những bước chân đi xiêu vẹo đến từng người một bước qua, lúc này tâm trí tôi không còn nghĩ gì hơn tại sao có loại người dã man vô cùng tận giống như loài quỷ, không phải con người vừa thoát khỏi loài vô thần quỷ đỏ thì lại gặp phải những con thú dữ không còn tánh người, những đứa nhỏ đáng con chúng cũng không từ. Đứng trước mặt nó lúc đó tôi không biết một động cơ nào thúc đẩy. Tôi quắc mắt nhìn nó một cách không sợ hãi hầu như thách thức tụi nó. Và tôi cũng không còn nghĩ điều gì hơn thiệt nữa, ba bẩy cũng phải liều. Nhìn đứa con gái mà tôi vuốt mắt cho mẹ nó lúc sáng hứa sẽ bảo vệ...đành lòng nào để cho nó rơi vào tay ác quỷ. 
Nghĩ đến điều đó tôi bước mạnh dạn ra khỏi hàng như người hùng xiên áo sẵn sàng lâm trận. Tôi giơ tay dùng hết mọi khả năng để cho nó biết rằng không còn ai có thể cầm cự nếu nó tiếp tục cướp và hãm hiếp. Tôi chỉ trời đất nguyền rủa nó chứ không van xin, mà những ngày sống với Cộng Sản ở nông trường đói quá đâm liều mới đủ gạo buổi chiều đó cho bốn mẹ con, cho nên lúc đó tôi không còn đếm xỉa đến hắn. Biết chống là chết nhưng tôi nghĩ lúc đó có chết cũng phải vùng lên dù là một khoảng khắc để rồi sau đó tắt lịm còn hơn cứ để chúng vời chơi như mèo vờn chuột, trước sau gì cũng chết. Nghĩ đến điều đó tôi quỳ xuống trong thư thái bình thản, mặc cho bọn chúng reo hò, tôi bắt đầu cầu nguyện. Tôi gọi Chúa, chỉ có Chúa mới cứu được chúng con trong lúc này thôi, bởi cái chết như sợi chỉ treo, lương thực đã hết, nước khô cạn.
 Hôm qua có người đàn ông không chịu nổi khát uống chai dầu gió bứt ruột mà chết, khi cơn đói khát làm hoa mắt chẳng còn biết cái gì nữa. Nếu một người như tôi có chết đi mà cứ hết đoàn tầu trong đó có những đứa con thân yêu của tôi được dến bến bờ, được quỳ dưới chân Nữ Thần Tự Do thì cái hy này không còn gì sung sướng bằng, tôi cứ nghĩ miên man và điềm tĩnh nhắm mắt cầu nguyện không còn sợ hãi nữa, đón nhận những gì đưa đến cho mình Rồi trong khoảng khắc không biết bao nhiêu lâu đứa con tôi lay vai tôi gọi: “ Mẹ, chúng nó cho nước rồi thả hết người rồi mẹ, mẹ đứng dậy đi nó không bắt mẹ đâu.” Tôi như từ một vùng cơn mơ bước ra, không thể nào tin được những tên hải tặc bôn ba khắp vùng biển cả để săn mồi lẽ nào bỏ qua con mồi ở trong tay chúng. Về đến tàu, tôi vẫn chưa hoàn hồn, Chúa đã giúp chúng tôi, tôi ôm đứa con nhỏ nước mắt ràn rụa. Chúa đã cứu mẹ mặc dù mẹ chưa sức dầu là con chiên của Chúa. 
Chỉ có Chúa tối cao mới có quyền năng từ một con sư tử, trở thành một con nai hiền lành, cho nên tàu chúng tôi mới thoát nạn Bây giờ cả tầu lấy lại được chút niền tin và sức sống nhớ có chút nước cầm hơi. Một ngày sau chúng tôi được tầu Đức vớt. Thế là cuộc hành trình trong nỗi kinh hoàng biển đông mà người Việt đi tìm tự do phải gánh chịu mọi gian nan trong cái chết tìm con đường sống, bao nỗi dày vò đói khát cướp bóc hãm hiếp, làm mồi cho cá trời nước mênh mông không thấy đâu là bờ bến mà ngày ấy đã mang may mắn cho tôi gió lặng sóng êm, những cơn sóng ngủ vùi dưới lòng biển cả nên đã bỏ quên chúng tôi. 
Nhiều khi trong giấc ngủ chợt giật mình nhớ lại ngày ấy tại sao mà có thể can đảm liều mạng đem sinh mạng mấy mẹ con mà giỡn với tử thần. Bây giờ nơi miền đất tự do, năm đứa con, hai đúa của người đàn bà xấu số, cũng đã nên người. Mùa xuân lại về, đêm ba mươi ngồi một mình trong căn nhà vắng vẻ ôn lại chuyện cũ đã qua, mới ngày nào thoáng chốc đã hai mươi năm, tóc bây giờ đã ngả mầu, có biết bao điều thay dỗi nhưng quê nhà vẫn lầm than. Bao giờ người dân việt mới được hưởng mùa xuân thật sự không bị trị và kềm kẹp, để cùng nhau hát khúc thanh bình trong những đêm trăng sáng quê nhà.
.. ::: Nguyên Sương:::

No comments:





No comments:

Post a Comment